Các tổ chức Khoa học công nghệ
    Chương trình, đề tài, dự án Khoa học công nghệ
    Cơ sở dữ liệu
    Sở hữu trí tuệ
    Tiêu chuẩn đo lường chất lượng
    Thị trường Công nghệ - Thiết bị
    Văn bản pháp luật
    Thủ tục hành chính
    Tạp chí KHCN
    ĐỊA CHÍ BÌNH ĐỊNH
    Hỏi đáp
  Tìm kiếm:
 
 

Truy cập:

2734714

Đang online:

12

  
>>  TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Nhìn lại một năm hoạt động Khoa học công nghệ Bình Định

Năm 2006 vừa qua là năm nước ta có nhiều sự kiện trọng đại; Bình Định chúng ta cũng được đánh dấu là năm có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và khởi đầu cho giai đoạn tiếp theo tăng tốc với việc khánh thành cầu Thị Nại qua Khu Kinh tế Nhơn Hội. Trong bối cảnh đó, hoạt động khoa học công nghệ năm 2006 của tỉnh ta cũng đã đạt được nhiều kết quả trên các mặt:

 

1. Thực hiện tốt sự chỉ đạo của Bộ KH&CN, Chương trình công tác của Tỉnh ủy và UBND tỉnh.

 

- Thực hiện chủ trương của Chính phủ và sự chỉ đạo của Bộ KH&CN, Sở KH&CN đã phối hợp với các ngành liên quan phổ biến và hướng dẫn các đơn vị KHCN trên địa bàn tỉnh thực hiện chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo NĐ 115 của Chính phủ và chọn 2 đơn vị trực thuộc Sở KH&CN (Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN và Trung tâm Hỗ trợ PTCNTT) để thực hiện. Đến nay, UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án cho 2 đơn vị này. Đồng thời, thực hiện chỉ đạo của Bộ KH&CN, Sở đã triển khai nhiệm vụ của cơ quan thông báo và điểm hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại trên địa bàn tỉnh (gọi tắt là TBT).

 

- Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy tại Kế hoạch số 02 và 03 về đánh giá, bổ nhiệm lại và quy hoạch cán bộ, Sở đã tổ chức thực hiện theo đúng quy trình, và hoàn thành thủ tục đúng quy định. Kết quả quy hoạch cán bộ là cơ sở để ngành đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sắp xếp cán bộ những năm tiếp theo nhằm phát huy tốt năng lực đội ngũ cán bộ hiện có.

 

- Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở đã hoàn thành Chương trình hành động liên ngành về cam kết phòng chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh và tổ chức ký kết. Trình UBND tỉnh chỉ định cơ quan Quản lý Dự án thuộc Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp  theo Quyết định số 68/2005/QĐ- TTg ngày 04/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ.

 

Để tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước về KH&CN, Sở KH&CN đã đề xuất và được UBND tỉnh thống nhất, chủ trương lấy Sở và Ban Quản lý Khu công nghiệp làm thí điểm đầu tiên trên địa bàn tỉnh triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000, và đã được tổ chức TUV NORD của Đức đánh giá, đề nghị công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001: 2000. Trên cơ sở đó, Sở KHCN đã đề xuất UBND tỉnh ban hành Kế hoạch áp dụng rộng rãi hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000 cho các cơ quan hành chính công trong toàn tỉnh giai đoạn 2006-2010.

 

Tổ chức tốt Hội nghị Tổng kết 5 năm hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và đón nhận Huân chương Lao động hạng III. Tổ chức thực hiện chính sách cho 55 đối tượng là thạc sĩ, chuyên khoa cấp II và thầy thuốc ưu tú theo QĐ 154 của UBND tỉnh với tổng kinh phí 696,5 triệu đồng, tạo được ảnh hưởng tốt cho tỉnh trong việc thu hút và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao. Xúc tiến hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp triển khai xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, năm 2006 đã thực hiện hỗ trợ 5 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng theo Quyết định 156/ QĐ-UB của UBND tỉnh .

 

Mặt khác, Sở cũng đã xem xét bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ để trình UBND tỉnh ban hành cho giai đoạn 2006-2010 như Quy chế tuyển chọn các đề tài, dự án KHCN; Quy chế làm việc của Hội đồng KHCN tỉnh...

 

Nhìn chung, các chương trình công tác do Tỉnh ủy, UBND tỉnh và của Bộ KH&CN giao, Sở đã tổ chức thực hiện theo đúng yêu cầu, thời gian quy định và tích cực tham mưu đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về KH&CN trên địa bàn tỉnh.

 

2. Thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng của ngành.

* Quản lý các đề tài, dự án KHCN. Năm 2006, đã tổ chức triển khai thực hiện 43 đề tài, dự án được UBND tỉnh phê duyệt với tổng kinh phí là 5.079 triệu đồng (trong đó có 13 đề tài chuyển tiếp và 30 đề tài, dự án thực hiện mới). Có thể nói, đây là năm có nhiều đề tài, dự án KHCN được các ngành tổ chức thực hiện. Các đề tài, dự án đều hướng vào các chương trình phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 

Đã tổ chức nghiệm thu 15 đề tài, dự án. Các đề tài, dự án hoàn thành đã cung cấp các luận cứ khoa học cho việc quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh và bảo vệ môi trường; giải quyết vấn đề chọn và nhân giống cây trồng, vật nuôi, phù hợp với đặc điểm, lợi thế của tỉnh và biện pháp kỹ thuật chăn nuôi, thâm canh tiến bộ vào sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, năng suất cao, có khả năng chống chịu bệnh tốt. Các đề tài, dự án trên lĩnh vực công nghiệp tập trung nghiên cứu chế tạo các thiết bị thay thế nhập khẩu có giá thành hạ nhiều lần so với nhập khẩu. Các đề tài trên lĩnh vực y tế đã phục vụ thiết thực cho công tác khám, chẩn đoán bệnh, điều trị, phòng chống dịch bệnh cho nhân dân... Một số đề tài tiêu biểu đã nghiệm thu trong năm 2006: Xây dựng và hoàn chỉnh chữ viết, biên soạn sách phục vụ dạy và học tiếng Bana Kriêm, Hrê, Chăm Hroi ở Bình Định; Nghiên cứu bệnh chậm sinh, vô sinh của đàn bò cái hướng sữa nuôi tại Bình Định và đề xuất các biện pháp phòng trừ; Sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá rô phi vằn đơn tính dòng GIFT tại Bình Định để xuất khẩu; Nghiên cứu cải tiến vàng câu và các giải pháp bảo quản cá ngừ đại dương sau khai thác nhằm nâng cao năng suất và chất lượng trong chế biến, xuất khẩu thuỷ sản; Nghiên cứu công nghệ xử lý nước luộc gỗ đạt tiêu chuẩn môi trường tại các cơ sở chế biến gỗ tỉnh Bình Định; Ứng dụng kỹ thuật khuyếch đại chuỗi AND (PCR) vào chẩn đoán và theo dõi điều trị viêm gan B tại BVĐK tỉnh Bình Định; Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật ghép xương tự thân tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định; Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật hẹp hộp sọ tại BVĐK tỉnh Bình Định…

 

* Về thẩm định công nghệ – thiết bị các dự án đầu tư: Sở đã tham gia thẩm định 8 dự án, đề tài về xây dựng lắp đặt thiết bị, công nghệ, sản xuất thử nghiệm, tham gia nghiệm thu TBCN 4 dự án về lĩnh vực công nghiệp, y tế và đánh giá TSCĐ 3 đơn vị. Việc thẩm định các dự án đầu tư, đấu thầu, nghiệm thu các TB-CN được thực hiện theo đúng quy trình và đáp ứng được yêu cầu của ngành chức năng.

 

* Về quản lý sở hữu trí tuệ (SHTT) và hoạt động sáng kiến(SK).

Sở đã tích cực phối hợp với các ngành chức năng có liên quan để hướng dẫn, hỗ trợ các tổ chức, cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh phát huy hiệu quả hoạt động SHTT, SK: thông báo kế hoạch cho các cơ sở SXKD trên địa bàn tỉnh tham gia Chợ CN-TB, Hội chợ Thương hiệu nổi tiếng Việt Nam tại Hà Nội; tham gia giải thưởng Sáng tạo KH&CN (VIFOTEC) và đạt giải khuyến khích với công trình “Nghiên cứu chế tạo thiết bị hấp hạt điều liên tục” do Công ty dầu Thực vật Bình Định thực hiện. Hỗ trợ 2 nông dân của tỉnh tham gia Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc lần thứ 8 (2004-2005) với thiết bị máy gặt lúa cải tiến và máy bóc vỏ đậu phộng và đạt 2 giải khuyến khích. Sở đã tư vấn để 02 nông dân liên kết với các doanh nghiệp sản xuất máy gặt lúa cải tiến và máy bóc vỏ đậu với quy mô lớn cung cấp nhu cầu trong và ngoài tỉnh.

 

Tích cực tác động để Cục Sở hữu trí tuệ xem xét giải quyết có kết quả vụ kiện về hoa văn trên viên ngói Phú Phong-Tây Sơn đựơc dư luận đồng tình và hoan nghênh; đề xuất Thanh tra Bộ giải quyết có kết quả vụ rượu Bầu Đá của các doanh nghiệp tỉnh Bình Định bị Chi cục Quản lý thị trường TP.HCM tạm giữ tại TP.HCM theo đơn khiếu kiện của Công ty Thực phẩm Minh Anh - Đà Nẵng. Phối hợp với UBND huyện An Nhơn xúc tiến thành lập Hiệp hội Rượu Bàu Đá và đang xúc tiến hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu tập thể cho tên gọi rượu Bàu Đá nhằm lấy lại thương hiệu truyền thống đã bị Cty Thực phẩm Minh Anh đăng ký độc quyền.

 

Hướng dẫn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đăng ký bảo hộ quyền SHTT cho 15 NHHH, 1 doanh nghiệp tra cứu thông tin kiểu dáng công nghiệp phục vụ đăng ký bảo hộ. Đã phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh và Liên hiệp các Hội KHKT tham gia xét duyệt 21 đề tài được Tổng LĐLĐ Việt Nam cấp bằng LĐST và UBND tỉnh tặng Bằng khen.

 

* Về quản lý an toàn bức xạ: Sở đã cấp phép cho 09 cơ sở sử dụng thiết bị X quang y tế. Tăng cường công tác thanh kiểm tra theo định kỳ các nguồn phóng xạ và quản lý chất thải phóng xạ trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Bộ KH và CN.

 

* Công tác tuyên tuyền phổ biến và xuất bản ấn phẩm thông tin KH&CN: Hoạt động thông tin KH&CN đã phục vụ kịp thời cho các nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến về KH&CN. Đã xuất bản 9 số Tạp chí KH&CN với số lượng 9.000 quyển; hình thức và chất lượng, nội dung của Tạp chí ngày càng được nâng cao với sự tham gia đông đảo đội ngũ cộng tác viên là các nhà khoa học,  nhà quản lý trong và ngoài tỉnh. Chuyên mục KH&CN định kỳ hàng tuần trên sóng phát thanh – truyền hình tỉnh và 11 đài huyện, thành phố Quy Nhơn được đảm bảo về tin, bài, thời lượng, nội dung sát với nhu cầu của người dân, qua đó nâng cao nhận thức ứng dụng thông tin KH&CN vào cuộc sống.

 

* Về hoạt động ứng dụng CNTT: Triển khai ứng dụng phần mềm Văn phòng di động M.OFFICE tại Sở. Qua 1 năm triển khai thử nghiệm bước đầu đạt kết quả tốt: Sở đã ứng dụng đăng ký trực tuyến và xem Lịch hàng tuần, quản lý, tạo luồng công việc, cập nhật tài liệu ISO, lọc thông tin từ các địa chỉ RSS trên Internet phục vụ thuận tiện cho nhu cầu nhiệm vụ quản lý của ngành và tiết kiệm các chi phí về văn phòng phẩm,...

 

Việc cập nhật thông tin KH&CN trên trang Web của Sở được tiến hành thường xuyên. Việc truy cập, tra cứu thông tin trên mạng được thông suốt, phục vụ tốt cho công tác quản lý của ngành.

 

Tại các huyện, Sở đã hình thành và duy trì được 11 điểm thông tin KH&CN ở 11 xã của 10 huyện và thành phố Quy Nhơn, trang bị cho từng điểm thông tin 1 máy tính có nối mạng Internet, đầu ghi, phát đĩa, máy in, ti vi. Bước đầu các điểm thông tin trên đã phục vụ cho nhân dân thông tin KH&CN từ các cơ sở dữ liệu được trang bị.

 

* Hoạt động Thanh tra KH&CN: Hoàn thành đúng kế hoạch công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ và triển khai tốt các cuộc thanh kiểm tra đột xuất. Trong năm 2006 đã tổ chức 6 cuộc thanh tra (100% kế hoạch), trong đó định kỳ 4 cuộc và đột xuất 2 cuộc với 227 lượt cơ sở được thanh tra, số cơ sở vi phạm 37 (chiếm 16,30%). Sở đã phối hợp tốt với các ngành chức năng xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm, góp phần bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng và tạo được bước chuyển biến về nhận thức và hành động cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc thực hiện các quy định của pháp luật.

 

* Hoạt động về TC- ĐL- CLHH: Đã tập trung triển khai thực hiện tốt các Pháp lệnh Đo lường, Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá và các Nghị định có liên quan. Tăng cường xúc tiến hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Năm 2006, số phương tiện đo được kiểm định là 26.486- vượt 10,5% KH, hướng dẫn xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn 102- vượt 27% KH, bổ sung thư mục tiêu chuẩn 105- vượt 10,5%, hỗ trợ 32 DN công bố TCCLHH cho 75 sản phẩm (KH là 50), hoạt động công bố chất lượng hàng hoá và kiểm tra việc thực hiện công bố chất lượng hàng hoá được đẩy mạnh.

 

* Cải cách thủ tục hành chính: Sở triển khai áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 trong dịch vụ hành chính công tại khối Văn phòng Sở, các nhiệm vụ có liên quan đến các tổ chức và cá nhân như quản lý các đề tài dự án, cấp giấy chứng nhận về an toàn và kiểm soát bức xạ (AT&KSBX), đăng ký hoạt động KH&CN, hỗ trợ các đối tượng hưởng chế độ, chính sách ưu đãi,....được giải quyết nhanh, kịp thời đảm bảo nguyên tắc không gây phiền hà cho nhân dân và các tổ chức.

 

* Hoạt động sự nghiệp KH&CN: Trước yêu cầu chuyển đổi về cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 43 và 115 của Chính phủ, các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở ngay từ đầu năm tập trung mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường đầu tư tiềm lực trang thiết bị, cử cán bộ đi đào tạo tập huấn, từng bước chuẩn bị các điều kiện để chuyển sang tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí. Nhìn chung, năm 2006 các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở đã có nhiều nỗ lực hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch, doanh thu của đơn vị và thu nhập bình quân của CCVC có tăng hơn so với năm 2005.

 

Trung tâm Hỗ trợ PTCNTT ngoài công tác đào tạo các lớp LTV, KTV, quản trị mạng, tin học VP, tin học A, B... còn đẩy mạnh công tác nghiên cứu KH&CN như xây dựng các chương trình phần mềm phục vụ công tác quản lý điều hành, tác nghiệp cho các đơn vị và thực hiện các dịch vụ về CNTT. Doanh thu của Trung tâm đạt 2.014 triệu đồng, vượt 25,9% kế hoạch.

 

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN không ngừng mở rộng và hoàn thiện quy trình công nghệ nuôi cấy mô nhân giống các loại cây trồng phục vụ phát triển nông , lâm nghiệp. Năm 2006 Trung tâm đã thực hiện một số đề tài, dự án bước đầu đạt kết quả như đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm vi sinh xử lý môi trường nuôi tôm và quy trình thu gom xử lý bùn ao nuôi tôm tốt; hoàn chỉnh dự án xây dựng mô hình sản xuất hoa lan bằng công nghệ cao...Doanh thu của Trung tâm đạt 968 triệu đồng, vượt 02% kế hoạch.

 

Trung tâm Phân tích và Kiểm nghiệm đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 17025: 2005 trong các lĩnh vực hoá, sinh, cơ lý với 18 chỉ tiêu và đã được tổ chức VILAS đánh giá công nhận đạt tiêu chuẩn phòng thí nghiệm. Qua đó uy tín và năng lực của Trung tâm ngày càng được nâng lên; thị trường hoạt động của Trung tâm từng bước mở rộng sang một số tỉnh trong khu vực. Trung tâm đã nghiên cứu thành công đề tài cấp tỉnh về xử lý nước thải luộc gỗ đạt loại xuất sắc và được nhiều doanh nghiệp trên địa bà tỉnh áp dụng nhằm góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh. Doanh thu của Trung tâm đạt 747,8 triệu đồng, vượt 41,1% kế hoạch.

 

3. Tăng cường tiềm lực phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước:

Nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước và mở rộng quy mô, hiệu quả hoạt động của ngành, trong năm 2006 Sở đã cử 50 lượt CBCCVC tham gia bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ, 01 cán bộ học Cao cấp lý luận chính trị và 4 cán bộ học lớp Trung cấp chính trị (đã tốt nghiệp 2), 3 cán bộ tham gia lớp Cao học, 1 cán bộ tham gia học và dự thi nâng ngạch thanh tra viên chính, 1 cán bộ bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên, 5 cán bộ tham gia lớp Giao tiếp tiếng Anh trong thương mại.

 

Sở đã tăng cường đầu tư tiềm lực thông qua các dự án trên các lĩnh vực phân tích thí nghiệm, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, công nghệ thông tin…

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong năm 2006 hoạt động KH&CN còn một số tồn tại, hạn chế sau đây:

 

- Các đề tài, dự án giải quyết các nhiệm vụ liên ngành chưa nhiều, số lượng các dự án SXTN hàng năm tỷ lệ còn ít, các cơ quan nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KH & CN trên địa bàn tỉnh hoạt động còn yếu và chưa có sự phối hợp đồng bộ, do đó hoạt động phổ biến nhân rộng kết quả nghiên cứu, tiến bộ KH&CN vào sản xuất, đời sống phát huy hiệu quả chưa cao;

 

- Hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, nhất là trong thời điểm hiện nay VN đã gia nhập WTO. Nguyên nhân của tình hình này ngoài phần nhân lực quản lý không đáp ứng, còn có nguyên nhân của các mức phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe.

 

- Hoạt động khoa học công nghệ và quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ cấp huyện, thành phố chưa được tăng cường đúng mức, chưa có sự quan tâm đầy đủ của cấp huyện, thành phố trong việc củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân sự chuyên trách KHCN.

 

Nhìn chung, hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh trong năm 2006, cơ bản đã thực hiện đúng theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 6 về khoa học và công nghệ, Chỉ thị số 63/CT/TW của Bộ Chính trị, Kế hoạch 24-KH/TU của Tỉnh ủy và đã đạt được những kết quả tích cực, chú trọng giải quyết những yêu cầu thực tiễn của các ngành, các địa phương, góp phần quan trọng trong phát triển KT-XH của tỉnh. Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, các nhiệm vụ NCKH&PTCN trong năm 2007 của giai đoạn 2006-2010 phải tiếp cận sát hơn nữa nhu cầu phát triển KTXH của tỉnh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới thiết bị công nghệ. Kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ phải có tác động mạnh mẽ vào sản xuất và đời sống, sản phẩm khoa học và công nghệ phải định hướng tới sản phẩm hàng hoá và nâng cao năng lực cạnh tranh. Có như vậy, khoa học và công nghệ mới thực sự là động lực của phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà.

 

TS. MAN NGỌC LÝ

Giám đốc Sở KH-CN

TRONG SỐ NÀY:
Bác Hồ với mùa xuân kháng chiến đầu tiên xuân Đinh Hợi 1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh tin dùng tri thức
Hưởng ứng cuộc vận động: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Ông NGUYỄN SINH HÙNG - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ (Phát biểu trong Lễ Khánh thành cầu Thị Nại): Bình Định triển khai có hiệu quả thành công bước đầu trong việc xây dựng hạ tầng KKT Nhơn Hội
Ông VŨ HOÀNG HÀ, Ủy viên BCH T.Ư Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định (Trích) Phát biểu trong Lễ Khánh thành cầu Thị Nại): Cầu Thị Nại “mở toang cánh cửa vào Nhơn Hội”
Xây dựng kết cấu hạ tầng KKT Nhơn Hội phải hiện đại, theo công nghệ tiên tiến
Một doanh nghiệp hình thành từ đề tài nghiên cứu khoa học: Sau 6 năm doanh thu trên 25 tỷ đồng
Kinh nghiệm áp dụng ISO 9000
Vài cảm nhận về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Chăm ở Bình Định
Giá trị văn hoá của tháp Chăm ở Bình Định
Hậu Nghệ
Trùng tu, tôn tạo di tích kiến trúc cổ : cần lưu tâm đến không gian – môi trường – cảnh quan
Hài hoà tiêu chuẩn thách thức và cơ hội
Ứng dụng và an toàn của công nghệ web services
Kỹ thuật nuôi heo rừng lai
“Tự chủ sáng tạo, trọng điểm vượt qua, ủng hộ phát triển, dẫn đầu tương lai”
Bền vững một cơ sở giống heo cấp 1
Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2000 kinh nghiệm triển khai
Cội nguồn rượu Bàu Đá
Cây sả chanh trên đất nghèo dinh dưỡng
Thử nghiệm - bảo tồn giống cây song bột
Trồng thử nghiệm cây Rép trên đất đồi huyện Tây Sơn
Cải tiến máy đùn gạch 2 trục phay
Hệ thống liên lạc tự động giữa nhà trường và gia đình
Hội thảo khoa học - nước sinh hoạt bị nhiễm Fluor: Ảnh hưởng đến răng, xương cần có nghiên cứu toàn diện...
Hoa Quỳnh với bệnh về hô hấp – tim mạch
 
  

 

 

KỶ YẾU KH&CN
- Giai đoạn 1991-2000
- Giai đoạn 2001-2005
- Giai đoạn 2006-2010

  Hội Nghị KH&CN các  tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên lần thứ VII

Chương trình đưa  thông tin KH&CN  phục vụ phát triển KTXH nông thôn  và  miền  núi

 

  

      Website Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định.                         
      Theo Giấy phép số 231/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 06/06/2007.
      Quản lý và nhập tin:
Phòng Quản lý Chuyên ngành, Sở Khoa học & Công nghệ Bình Định.
      Người chịu trách nhiệm chính: TS. Võ Ngọc Anh - Phó Giám đốc Sở.

Địa Chỉ: 68 Lê Duẩn, TP.Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định.

ĐT: 056.3524791 -  056.3522075   * Fax: 056.3523661.

Email: sokhcnbd@vnn.vn.